Trang chủ Trang nhà Thân phận

Thân phận

56
0

Mười năm khổ nhục trong tù, nay Lê Hồng Chương được thả về nhưng bị cưỡng bức cư trú tại khu kinh tế mới Cát Tiên.

Những bạn tù cùng trên đường về, người nào cũng nôn nao mong được gặp mặt người thân. Riêng Chương thì chẳng bận tâm vì không còn ai để đoàn tụ. Anh bây giờ đơn độc của một kẻ không nhà.

Cha mẹ Chương đã mãn phần từ lâu. Hoàng Thúy Vân vợ Chương và đứa con gái lên hai tuổi tên Vân Chuyên đã biệt tích từ ngày chạy loạn 30 tháng 4 năm 1975.

Sau khi làm thủ tục trình diện chính quyền sở tại, Chương xin được một chân công nhân gạch ngói tại vùng Madagui nên Anh có nơi ăn chốn ở tạm thời.

Sáng nay, một đoàn xe tải lần lượt nối đuôi nhau đậu trước sân công ty gạch ngói. Chương theo chân mọi người sắp thành hai hàng dọc. Mỗi hàng là một dây chuyền. Mỗi chồng ngói năm viên được chuyền tay nhau đưa vào tận lòng xe.

Mọi người đang chăm chú làm việc, bỗng có tiếng gọi: “Ðại bàng, Ðại bàng !”

Anh em công nhân đưa mắt hỏi nhau ai là đại bàng, rồi tất cả nhìn vào Chương khiến cho dây chuyền ngói khựng lại.

Một người đàn ông từ trong phòng lái bước xuống xe rồi tiến thẳng tới nơi Chương đứng. Anh ta kéo Chương ra khỏi hàng, ôm chặt lấy tấm thân gầy gò của Chương reo lên:

 – Ðại bàng ơi ! em là Đông, tài xế ngày xưa của Đại bàng, không ngờ thầy trò mình lại được gặp nhau ở đây. Cám ơn Trời Phật! Em đã hai lần ghé vào nhà cũ để hỏi thăm đại bàng về chưa nhưng căn nhà thì đổi chủ, chị Vân và cháu Vân Chuyên, nghe nói đã vượt biên rồi.

Chương từ chối sự trợ giúp tài chánh của Ðông, viện lý do là lương công nhân đủ sống. Bảy ngày sau, Chương nhận được lá thư của Ðông:

“Anh Chương kính mến,

Em rất mừng khi thấy anh còn lành lặn cho dù lao tù đã vùi dập anh suốt mười năm.

Chắc anh còn nhớ nhóm “Lưu Linh” của bọn em: Ðoàn, Hồng, Hiệp, Hàn và Ðông. Bọn em đã “tái kết nghĩa đào viên” trong năm vừa rồi. Chúng em hứa với nhau: “Ðứa nào gặp đại bàng Lê Hồng Chương trước là phải cấp báo ngay cho anh em. Ðồng thời, cùng nhau chăm sóc giúp đỡ ông Thầy”. Như vậy, em là người diễm phúc được gặp Thầy, người Thầy đã một thời tận tụy chăm lo cho đơn vị.

Ngày 15 tháng tới đây, nhóm “Lưu Linh” hẹn gặp nhau tại nhà em để được chúc sức khỏe ôngThầy. Em sẽ đích thân xuống Madagui chở anh. Chúng em cũng có bàn thảo tìm một việc làm mới thích hợp với sức khỏe và năng lực của anh hiện giờ. Rất mong ông Thầy chấp thuận cho cuộc họp mặt tình nghĩa nầy. Ðại diện nhóm “Lưu Linh.

Em Ðông”

Ðọc xong bức thư, Chương bồi hồi xúc động. Thì ra trong cuộc biển dâu vẫn còn đọng lại một chút tình.

Cuộc gặp gỡ những chiến hữu cũ đầy thân tình và cảm động. Họ thật lòng quan tâm tới hoàn cảnh của Chương.

Qua trung gian của một cán bộ bà con với Ðông, Chương được nhận vào tập đoàn sản xuất cà phê ở khu đất mới Tân Hội. Nhờ đó, Chương có hộ khẩu thường trú và được phục hồi quyền công dân sớm sủa.

* * *

Mùa cà phê đã đến thời kỳ thu hoạch. Ðồng bào thiểu số đến hái cà phê lấy công khá đông. Trẻ em quanh vùng cũng tham gia. Trong số nầy có một em bé gái đồng lứa với các em khác nhưng làm việc còn rụt rè chậm chạp. Bạn bè gọi tên bé là Ca-len và em nói tiếng dân tộc vùng Ka- Lông. Bé đeo những chuỗi cườm đủ màu sắc trên tay, trên cổ và một chiếc gùi quá lớn sau lưng. Thoạt nhìn, bé giống như một nghệ sĩ tí hon đóng vai dân miền Thượng.

Ðặc biệt là mái tóc của nó được chải rẽ đường ngôi giữa đỉnh đầu và lúc nào cũng có kẹp vắt tóc hai bên thái dương. Với chiếc mũi dọc dừa nhỏ nhắn cùng cái miệng mủm mỉm xinh xinh khiến nó nỗi bật trong đám trẻ dân tộc kia. Chương nhìn con bé mà nghe lòng xốn xang. Chàng nhớ đến Vân Chuyên đứa con gái của mình và người vợ đã vượt biên.

Ðến mùa thu hoạch cà phê, vùng đất mới Tân Hội rộn rịp hẳn lên. Xe tải, xe con của cán bộ thương nghiệp từ các nơi đổ về tấp nập.

Tất cả thành phẩm cà phê trong vùng nầy khi xuất đi đều phải có giấy phép của chính quyền huyện. Nhiều trạm kiểm soát hỗn hợp được bố trí trên các tuyến đường vào ra khu vực. Cà phê của cá thể do ngành thương nghiệp thu mua theo giá ấn định, không được mang ra ngoài bán.

Cà phê là sản phẩm do nhà nước độc quyền quản lý cũng như tiêu hạt, trầm hương và quế ống.

Hai ngày qua bé Ca-len không đến nông trường. Sáng nay, bé lại xuất hiện. Khuôn mặt u buồn của bé hôm nay lại càng buồn hơn. Cuối ngày, bé là người giao sản phẩm trễ nhất. Phần công của em chỉ bằng một nửa của mấy ngày trước. Chương động lòng cho công em bằng lượng cà phê của bạn bè. Nó nhìn chàng rồi trịnh trọng:

 – Cám ơn ông.

Con bé phát âm tiếng Việt rất chuẩn. Khác hẳn giọng nói lơ lớ của những đứa bé thiểu số kia. Chương ngạc nhiên hỏi:

 – Cháu là người Kinh?

Con bé gật đầu.

 – Hai ngày qua sao cháu không đến?

Bé ngước nhìn Chương với đôi mắt ướm lệ:

 – Mẹ cháu bịnh.

Chương tò mò:

 – Thế bố cháu đâu?

Con bé lắc đầu. Chương định hỏi thăm thêm gia cảnh của nó, nhưng bé vội vã ra về. Chương nghĩ con bé Ca-len nầy mang hai dòng máu kinh và dân tộc thiểu số sống tại vùng Ka-long bên dưới chân đèo Prein Đà Lạt.

Bé Ca- Len lặng lẽ làm việc giữa tiếng cười vui của đám trẻ. Ðôi mắt bé trũng sâu như người thiếu ngủ. Mái tóc hoe vàng cháy nắng không còn ngôi rẽ ngay ngắn giữa đỉnh đầu, cây kẹp vắt hững hờ trên mái tóc lưa thưa rối bời.

Cuối ngày, Chương cố giữ con bé ở lại đến khi mọi người đã ra về hết. Chương bày tỏ ý định đến nhà để xem căn bịnh của mẹ nó ra sao và anh có thể giúp đỡ được gì không.

Một túp lều mái tranh vách nứa nằm khuất giữa đám bắp đang độ ra hoa. Con bé nhè nhẹ đẩy cánh cửa liếp bằng nứa đơn sơ. Chương bước vào túp lều lờ mờ ánh sáng. Từ nơi góc nhà, tiếng yếu ớt của một người đàn bà vẳng lên:

 – Ai đó?

Chương cố vận dụng sự điều tiết của đôi mắt để nhìn cho rõ khuôn mặt người đang nằm trên chiếc giường tre ọp ẹp:

 – Thưa bà, tôi là người làm ở nông trường cà phê…

Chương trả lời chưa hết câu, bỗng người đàn bà kêu lên:

 – Ôi! Anh Chương, rồi lịm đi…

Chương sững sờ. Tiếng nói của Hoàng Thúy Vân, vợ anh. Giọng nói thân yêu đã ngự trị trong tim anh, mọc mầm trong ký ức anh. Giọng nói đã quần tụ trong nỗi nhớ quay quắt suốt mười năm trong tù, làm sao anh lầm lẫn được. Chương nhào tới. Khuôn mặt xanh xao của Vân hiện ra. Trong một giây khựng lại, rồi anh ôm chầm lấy vợ, kêu lên:

 – Vân ơi! Em ơi! Sao lại ra nông nỗi nầy?

Chương vùi mặt vào ngực vợ. Nhịp đập của trái tim nàng nhẹ nhàng, chầm chậm, từng khoảng nhỏ cách rời. Nó mất cả rồi cơn rộn ràng tới tấp trong căn ngực no tròn của thuở hai người yêu nhau. Bộ ngực bây giờ trải bằng theo lớp xương sườn khô đét làm nổi bật chiếc bụng nàng trương cao.

Vân tỉnh lại. Nàng đưa đôi tay ốm yếu ôm lấy đầu Chương. Vân muốn ghì Chương vào ngực nàng nhưng đôi tay không còn sinh lực chỉ đủ sức áp nhẹ bàn tay lên cổ chồng. Chương ngẩn đầu nhìn Vân rồi đặt môi hôn trên má trên mắt và môi nàng.

Con bé Calen tự nãy giờ yên lặng, ngơ ngác trước cảnh tượng lạ lẫm của mẹ và người đàn ông giữ rẫy cà phê.

Vân sực nhớ đến con gái, lên tiếng gọi:

 – Vân Chuyên đến đây với mẹ. Ba đã về với mẹ con mình rồi.

Nàng thì thầm:

 – Con gái của chúng mình đó. Tội nghiệp. Nó đã chịu đựng cùng em bao nỗi nhọc nhằn, đắng cay suốt mười năm nay.

Bé Vân Chuyên ngập ngừng đến bên giường mẹ. Chương ôm con gái vào lòng với muôn vàn nỗi xót xa. Chàng âu yếm nói với con:

 – Ba xin lỗi con. Ba vô tình và Ba chẳng ngờ… Tạ ơn Thượng đế, Người đã cho con cuộc trùng phùng bất ngờ nầy.

Vân thì thào trong nước mắt:

 – Em hạnh phúc và thỏa nguyện vô cùng. Bé Vân Chuyên không còn cô quạnh và em…

Chương ngắt lời vợ:

 – Ngày mai anh sẽ đưa em đi thành phố, nơi đó có bạn bè anh giúp đỡ để chữa bệnh cho em.

Chợt nàng hỏi Chương:

 – Họ mướn anh làm công việc gì ở khu cà phê ấy?

Chương cầm tay vợ ân cần:

 – Cai quản ba mẫu cà phê của các ông trên Huyện. Bây giờ là mùa thu hoạch, anh lo điều hành và bảo quản sản phẩm trong kho.

Vân hối thúc:

 – Vậy anh phải về ngay bây giờ. Nếu có việc gì xảy ra, không chừng anh bị mất việc.

 – Ðành chịu vậy, anh phải ở lại đây đêm nay để chăm sóc em.

 – Anh à, số cà phê hột bị mất trộm, anh sẽ lại vào tù. Anh chưa thấu hiểu bằng em cái xã hội “bần cùng sinh đạo tặc” nầy đâu.

Một thực tế phũ phàng mà Chương không thể tránh né, đành nghe theo lời vợ.

Vân lấy dưới gối một bì thư lớn đã niêm phong trao cho Chương.

Anh bước ra khỏi lều, gió núi về đêm phả vào mặt nghe tê lạnh. Rẫy cà phê um tùm nối tiếp nhau trong màn đêm u uất. Chương cảm thấy hụt hẫng trứơc hoàn cảnh tận cùng bi đát của vợ con.

* * *

Bên trong chiếc phong bì là một tập vở học trò, Chương chậm rãi, cẩn trọng giở từng trang nhật ký đọc dưới ánh đèn dầu vàng vọt:

Ngày…năm 1976.

Chương ơi, em đã bỏ nhà ra đi vì ông Trương Thanh đã gây áp lực với má buộc em phải ly dị anh. Tội nghiệp cho má, bà đã hiến trọn tình yêu và niềm tin vào ông ấy, nhưng vì bản chất đa nghi, ông Thanh không tin má có thai em trong thời gian ba tuần lễ ông sống chung sau khi cưới và trước khi ông lên đường tập kết ra Bắc.       

Má quá đau buồn mà quyên sinh. Bây giờ, mọi nẻo đều bít lối về của em và con. Căn nhà đã bị tịch thu, tài sản của má hoàn toàn mất sạch.

Ngày… 1977

Em và con đang ở Tân Hội, một vùng đất hoang mới được khai khẩn thuộc tỉnh Lâm Ðồng. Có lẽ định mệnh đã an bài cho em sống chết nơi đây.

Ngày… 1980…

Ngày… 1981

Căn bệnh gan của em mỗi ngày mỗi nặng…

Đọc đến đây, Chương thiếp đi tự lúc nào không hay. Tiếng chim kêu lảnh lót ngoài vườn cây đánh thức Chương tỉnh giấc.

Vân Chuyên đột ngột đẩy cửa vào nhà mếu máo khóc:

 – Mẹ, mẹ con chết rồi !

Chương ngẩn người, tựa sét đánh. Anh phóng người qua cửa chạy thục mạng bất kể những cành cà phê quất vào mặt,vào đầu. Ðôi chân trần rỉ máu nhưng Chương hoàn toàn mất cảm giác, ngay cả bản thân mình cũng quên tất!

Chương tông cửa vào nhà, vợ anh nằm đó, hai tay buông xuôi, đôi mắt không hồn nhìn trân trân về hướng khung cửa. Chương ôm chầm lấy xác vợ. Anh lay, anh gọi, anh gào thét trong nỗi đau đớn tận cùng. Máu căng đầy đôi tròng mắt đỏ ngầu, máu chảy rần rật trong đôi tay Chương run rẩy. Cơn uất nghẹn không lối thoát.

Con bé đứng bên giường mẹ ôm mặt khóc thút thít tự lúc nào, Chương quay nhìn thấy con gái đứng cô đơn và lạnh lẽo, anh chợt tỉnh. Chương đứng dậy ôm con vào lòng và nước mắt bỗng dưng tuôn trào. Nước mắt Chương chảy thành dòng rơi xuống mặt bé Vân Chuyên. Nước mắt của hai cha con hòa chung một làm ướt đẫm cả ngực áo con gái mình.

Ánh nắng xuyên qua mái lá rọi xuống khung hình phản chiếu ánh sáng lung linh trên bức tường nứa. Mắt ThúyVân bây giờ đã khép. Khuôn mặt nàng vẫn còn vương nét khổ lụy chất chồng.

Chương khắc trên bia mộ: “Nơi an nghỉ cuối cùng của bà Lê Hồng Chương, nhũ danh Hoàng Thúy Vân. Mất ngày 18 tháng 8 năm 1985. Chồng và con gái phụng lập”

Từ hôm ấy, khi mặt trời chiều đổ sập sau đỉnh núi cao, người ta thường thấy hai cha con, một già một trẻ đi viếng mộ trở về. Mái tóc bạc màu làm nổi bật gương mặt khắc khổ của người cha. Bé gái trầm ngâm nắm tay cha bước đi giữa bóng hoàng hôn đang chìm vào đêm tối…

Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích