Trang chủ Trang nhà Buổi chiều đang rơi

Buổi chiều đang rơi

18
0

Trần Mộng Tú

Người đàn bà lấy chiếc gương nhỏ trong bóp ra, kín đáo soi mặt mình trong gương, bà nghiêng mặt sang bên trái, nghiêng sang bên phải, bà dùng ngón tay trỏ vuốt khẽ trên sống mũi, rồi lấy cây son ra tô nhè nhẹ lại đôi môi. Tô son xong bà nhìn xuống đồng hồ, bà đến sớm hơn giờ hẹn 15 phút, có nghĩa là bà phải ngồi uống vài ba ly nước trong khi chờ người đàn ông chưa hề biết mặt đến. Trước mặt bà đã có ly nước lạnh, bà gọi thêm một ly nước cam, uống từng ngụm nhỏ; ly này một ngụm, ly kia một ngụm, nghe dòng nước chẩy lành lạnh qua cuống họng.

Nhà hàng giờ này vào quá trưa, nhưng còn sớm cho một buổi chiều, nên khách còn thưa thớt. Bất giác bà đưa mắt quan sát chung quanh mình. Nhà hàng không rộng lắm, bà đếm được năm cái bàn cho bốn người, ba cái cho sáu người và thêm độ mười cái chỉ có hai ghế rải rác từ trong ra đến phía ngoài hàng hiên. Cách bầy biện trang nhã, hoa hồng vàng trên khăn bàn trắng hồ cứng thẳng nếp, bên ngoài nhà hàng có nhiều cây trắc bá, thông, tùng và một hàng đào Nhật ngay cửa ra vào, tháng này bắt đầu ra nụ. Ngoài vẻ thanh nhã của nhà hàng, bà không hiểu tại sao người đàn ông lại chọn nơi này, cách xa nơi ông ta ở đến hơn một tiếng lái xe, và bà cũng mất bốn mươi phút mới tới đây.

Bà nhìn đồng hồ, đã quá giờ hẹn mười phút. Như thế là bà ngồi chờ gần nửa tiếng, bà bắt đầu cảm thấy khó chịu. Hẹn một phụ nữ, chưa gặp bao giờ mà đến trễ, là một điều không nên (thật ra bà đến sớm, và ông ta mới trễ 13 phút). Đúng lúc bà cúi xuống uống thêm ngụm nước thì một người đàn ông đẩy cửa nhà hàng bước vào, ông ta đứng lại một giây, nhìn quanh mấy người khách đang ngồi trong nhà hàng, khi thấy một phụ nữ ngồi một mình, ông cau mày lại, định thần rồi tiến về phía bà.

 – Xin lỗi, bà là Susan Taylor?

 – Vâng, và ông là Peter Anderson?

Người đàn ông gật đầu, im lặng, kéo chiếc ghế ngồi đối diện với bà Susan. Ông tiếp tục im lặng, nhìn vào gò má, mũi bà, môi bà, rồi hạ mắt nhìn xuống cầm bà. Bà Susan ngồi như bất động, bà cũng gần như muốn nhắm mắt lại, chịu đựng cái nhìn của ông.

Người bồi bàn đến với hai cái thực-đơn, làm khua động cái không khí im lặng giữa hai người. Bà Susan được dịp mở mắt nhìn thẳng vào mặt người đàn ông. Ông không còn trẻ lắm, trạc ngoài năm mươi, chắc hơn bà vài tuổi, tóc có pha chút muối tiêu, gương mặt cứng cỏi, hai con mắt chao ôi là đẹp, vì nó trông buồn quá! Ông mặc chiếc áo len mỏng mầu rượu chát. Bà Susan nhớ là khi ông Peter làm hẹn với bà, ông có dặn bà mặc áo mầu vàng, bà Susan thuận ý, nhưng rồi tìm mãi trong tủ áo không có cái áo nào mầu vàng (không phải mầu bà thích) không lẽ lại đi mua, nên bà mặc cái áo mầu kem còn rất mới, bà soi gương thấy cũng khá tươm tất.

Cả hai người cùng cúi xuống thực đơn chọn món ăn. Một lúc sau, ông Peter ngửng lên nói:

 – Xin lỗi, tôi đã đến chậm, vì… Ông ngập ngừng nói tiếp, tôi đã định hủy cuộc hẹn.

Bà Susan bối rối vì câu nói thêm đó, nhưng cũng ấp úng không biết trả lời thế nào. Không lẽ lại nói, ông là người muốn gặp, chứ không phải tôi. Nhất là ông Peter cứ nhìn vào mặt bà với cặp mắt buồn rười rượi.

 – Bà để tôi chọn thức ăn cho, tôi quen rồi.

 – Vâng, tùy ông.

Nói xong bà ngồi ngắm ông cúi xuống đọc thực-đơn, bà cố tưởng tượng ra người phụ nữ trước kia là người yêu, hay vợ của ông. Chắc trẻ, và đẹp; mũi miệng gì cũng đẹp cả. Bà hình dung ra hai người chắc thường đến ăn ở nhà hàng này nên ông mới chọn chỗ này. Bà đoán Peter sẽ gọi những món ăn trước đây người phụ nữ đó thường hay ăn.

Thức ăn mang ra, Peter ân cần tiếp cho Susan, ông gọi thêm rượu chát cho cả hai người, mà không hỏi ý bà. Món thịt cừu nướng với rosemary, món couscous có nho khô và lá thơm, ngon và lạ miệng. Susan ngồi ăn với người đàn ông rất lạ, cuộc hẹn hò cũng rất lạ, và hình như, bà chưa ăn thịt trừu bao giờ, nên vừa ăn vừa có cảm tưởng mình là một người khác (thì đúng mình là một người khác rồi, chứ còn gì nữa). Bà nói rất ít, nhai chậm như con nít mới tập nhai, thỉnh thoảng Peter ngưng ăn, nói một câu gì rất khẽ, nghe không rõ nhưng Susan không dám hỏi lại, bà không dám nhìn vào mắt Peter, hai con mắt buồn bã quá! Nhưng Susan thấy nó rất đẹp, và bà cứ phải chịu đựng cái nhìn của đôi mắt đó suốt bữa ăn. Ông vừa nhai chậm rãi vừa nhìn vào môi, miệng bà, nhìn xuống cầm bà. Cái nhìn khi gần gũi thân mật, khi hoang vắng lạnh lùng.

Thỉnh thoảng Peter ân cần nhắc Susan ăn, hỏi bà có vừa miệng không? Ông hỏi như hỏi một người thân thiết, gần gũi lắm, trong giọng nói, cử chỉ tràn đầy âu yếm và tôn trọng làm Susan thấy ngượng quá! Thỉnh thoảng ông như khựng người lại, đờ đẫn đến vô hồn, làm Susan bối rối, nhưng không biết phải phản ứng thế nào bây giờ.

Ăn xong, Peter mời Susan đi bách bộ một vòng, ông nói:

 – Chỉ đi bộ khoảng một mile là thấy hồ, chúng tôi vẫn hay đi như vậy sau mỗi lần ăn ở đây.

Susan chỉ biết gật đầu, đứng lên đi theo người đàn ông hãy còn rất lạ, nhưng bà biết chắc là không nguy hiểm hay sẽ gây phiền phức gì cho mình.

Hai người đi gần về phía hồ, Susan đã nghe thấy gió mang theo hơi nước, bà khẽ rùng mình. Peter hỏi trống, một cách thân mật, tiếng ông lăn theo tiếng gió

 – Sao không mặc áo vàng?

 – Không có áo mầu vàng

 – Lần sau, tôi sẽ mua cho một cái.

Susan im lặng, biết có lần sau nữa hay không? Bà cố nén tiếng thở dài vào trong ngực.

Họ vừa đi dọc theo hồ, vừa nói chuyện. Thật ra chỉ có Peter nói, Susan nương theo đó mà trả lời, một câu trả lời không có ý kiến riêng, chỉ cốt người nghe không bị ngỡ ngàng. Nhưng Peter cũng nói rất ít, đôi khi ông đặt câu hỏi, xong ông lại tự trả lời.

Susan nhìn đồng hồ, từ lúc ở nhà ra đi, gặp nhau, ăn, đi dạo, đã hơn ba tiếng. Đến giờ bà phải uống thuốc. Lúc đi, bà không nghĩ là sẽ lâu thế, nên bà không mang thuốc theo.

Bà ngỏ ý muốn về, Peter cũng không muốn giữ, ông đưa bà trở lại nhà hàng lấy xe. Trên đường về nhà hàng, Peter hỏi:

 – Nếu thỉnh thoảng tôi thấy cần được nhìn bà, tôi mời bà đến đây nữa bà có vui lòng đến không?

Susan đứng dừng lại, nhìn vào đôi mắt buồn rười rượi của Peter nói dịu dàng:

 – Nếu đó là bổn phận, ông cứ gọi.

Bà Susan lái xe về hướng Đông, ngược chiều với Peter đi về hướng Tây. Bà bắt đầu lo lắng hoang mang, có thể Peter gọi bà bất tử lúc nào, khi anh ta nhớ người tình. Bà có nên đến nữa hay không? Vì thực sự bà không thoải mái, Susan nhớ thủa học trung học, môn kịch nghệ là môn bà dở nhất. Nhưng đi gặp Peter, có phải là một bổn phận hay không? Bà thấy thương cho Peter và tội nghiệp cho chính cái may mắn mình đang được hưởng.

Peter đứng nhìn cho đến lúc chiếc xe của Susan rẽ ở một khúc quành. Ông lên xe, ghé chợ mua một bó hoa hồng vàng.

Người đàn ông quỳ xuống một gối, đặt bó hoa lên ngôi mộ, ông nói khẽ:

 – Nancy, hôm nay anh đã nhìn lại được hai gò má em, mũi em, môi em, cầm em, toàn diện khuôn mặt em trên một cái đầu người khác. Người đàn bà đó không phải là em, mà lại chính là em. Bộ óc đó chẳng phải của em, cái vóc dáng thân thể đó lại càng xa lạ với anh, bà ấy cũng chẳng thích mầu vàng giống em. Chao ôi, anh nhớ em vô cùng. Nhưng chắc anh sẽ không bao giờ hẹn gặp lại bà ta nữa, vì như thế, sẽ tội nghiệp cho bà Susan, tủi thân cho cả cái khuôn mặt của em tặng cho bà và thật khốn khổ cho anh, anh không thể nào ghé xuống hôn lên đôi môi yêu dấu đó!

Peter, đặt một nụ hôn lên bia đá, giọt lệ ông nhỏ xuống tên nàng. Buổi chiều đang rơi những giọt nắng xuống những bông hoa hồng vàng.

Trần Mộng Tú – 6/2009

Ghi chú: Truyện phóng tác dựa theo trường hợp thay mặt (Face transplant) đầu tiên ở Mỹ: “Một phụ nữ Mỹ, 46 tuổi ở Cleveland, Ohio bị chồng bắn (2004) vỡ tung mặt nhưng không chết, được giải phẫu, thay mặt (Dec, 2008), nhờ được gia đình của một phụ nữ qua đời vì dead brain bằng lòng cho lấy toàn khuôn mặt, gồm: Mí mắt dưới, mũi, xương gò má, nguyên hàm trên và những dây thần kinh”