Trang chủ Trang nhà Người quét dọn hành lang

Người quét dọn hành lang

50
0

 Pha Lê
***

“Mrs Lynn, please just leave all the trash in front of your shop, I’ll take care  of it!”

Tiếng nói ồm ồm vang lên sau lưng khiến tôi thoáng giật mình, nhưng ngay sau đó, là cảm giác thật thân gần vì nhận ra đó là giọng nói của Gilbert, anh chàng lao công quét  dọn trong  Mall mà tôi đã quen biết gần 10 năm. Tôi nhẹ nhàng cám ơn Gilbert.

Vừa bước ra bãi đậu xe tôi vừa suy nghĩ mông lung về Gilbert, người đàn ông da màu với khuôn măt khắc khổ đến độ thoạt nhìn, người ta có thể lầm tưởng anh ta đang hầm hè cau có vì một chuyện gì đó. Chính vì vậy, ngay bản thân tôi cũng rất ác cảm với Gilbert trong ngững ngày mới mở tiệm trong Mall, ngược lại, hinh như anh chàng lao công này cũng không ưa tôi ra mặt.  

Nhiều lần Gilbert vào văn phòng tôi để dọn dẹp, đáp lại những lời chào hỏi nhã nhặn của tôi, anh chàng bao giờ cũng trả lời nhát gừng, đôi lúc còn có vẻ xấc xược. Ban đầu tôi cứ đinh ninh đó là bản chất, con người của Gilbert, cục cằn nhưng nhiều lần bất ngờ tôi nghe được những câu đối thoại của Gilbert với khách hàng trong Mall, tôi thật sự ngạc nhiên vì anh chàng nói năng chừng mực, lễ độ, trái lại khi nói chuyện với tôi, Gilbert chỉ có vài ba chữ bất di bất dịch: yes, no, I don’t know. I don’t care ! Riết rồi tôi cũng… I don’t care  và chẳng còn quan tâm đến anh chàng tạp dịch  lao công này.

Cho đến một ngày, tiệm tôi đã mở cửa được hơn một năm, Gilbert bước vào văn phòng tôi với một cử chỉ rụt rè, khiêm tốn, anh chàng lao công ngỏ ý muốn được nói chuyện với tôi vì anh ta có vài điều cần chia xẻ. Vừa nghe đến đó, tôi đã bực mình, toan lắc đầu từ chối và thầm nghĩ: “Thật lãng xẹt, chẳng dây mơ rễ má, mắc mớ chi mà chia với xẻ!”, nhưng khi nhìn khuôn mặt rầu rĩ với ánh mắt  nài nỉ của Gilbert, tôi thật lòng không nỡ từ chối, nhưng tôi vẫn ngần ngại hỏi:

– Nhưng cậu phải cho tôi biết đó là chuyện gì, mà tại sao phải cần nói chuyện với tôi mà không phải là người khác?

Gilbert có vẻ lúng túng, mãi vài phút sau, anh chàng mới trầm giọng nói:

– Vâng, tôi cần phải nói chuyện với bà, vì bà là người Việt Nam!

Tôi sững người vì câu trả lời của Gilbert. Ôi dẻo đất nhỏ bé hình chũ S thân thương của tôi cách xa hàng vạn dặm, đã ảnh hưởng và chi phối Glibert như thế nào. Điều này làm tôi  thật sự mong mỏi được nghe, được chia xẻ những cảm nghĩ, những hệ lụy nếu có, đã xảy ra cho Gilbert từ một đất nước Việt nam xa tít bên kia bờ đại dương.

Bây giờ Glibert và tôi đang ngồi tại quán cà phê Starbucks trong mall. Buổi trưa quán vắng khách, chúng tôi chọn một bàn cuối phòng, khuất sau một chậu cây cảnh. Gilbert trông khá gọn gàng sạch sẽ hơn mọi ngày, với một giọng lễ độ khác thường, anh chàng nhỏ nhẹ nói:

– Xin cảm ơn bà cho buổi nói chuyện hôm nay. Biết bà rất bận rộn, nhưng câu chuyện tôi sắp kể với bà khá dài, nếu nửa chừng, bà không muốn nghe nữa, xin bà cứ đứng lên bước ra, còn nếu bà vẫn muốn tiếp tục nghe, xin bà đừng ngắt lời tôi, vì đây là câu chuyện của cuộc đời tôi, gần hơn 40 năm tôi đã cố quên, hôm nay ngồi nhớ lại chuyện cũ, có thể  những đau thương, oán ghét, thù hận năm xưa sẽ trở về, vì thế tôi mong bà kiên nhẫn và tha thứ cho tôi, được không, thưa bà.

Gilbert nói một hơi dài rồi ngừng lại nhìn tôi chờ đợi, tôi chỉ mỉm cười nhè nhẹ gật đầu.

Duỗi thẳng hai chân, lựa một tư thế ngồi cho thoải mái hơn, thở một hơi dài, Gilbert bắt đầu kể:

– Đó là năm 1969, cha tôi vừa được 19 tuổi thì bị động viên và gửi sang Việt Nam. Mẹ tôi  năm đó 18 tuổi và đang có bầu tôi được 6 tháng. Tôi sinh ra và suốt hơn 3 năm trời tôi chỉ biết cha tôi qua vài tấm hình mờ mờ, nhạt nhạt. Giữa năm 71. cha tôi được giải ngũ và được “khênh” về Mỹ vì cha tôi bị thương và đã để lại trên quê hương bà đôi chân, theo như sổ quân bạ ghi nhận cha tôi bị tàn phế 40%…

Tôi khẽ nhíu mày khi nghe giọng nói của Glibert thoáng chút cay đắng mỉa mai. Dù có chút phiền lòng, nhưng nhớ lời yêu cầu  tôi đành ngồi im. Có lẽ cũng nhìn thấy cái cau mày của tôi, Gilbert ngừng lại vài phút, rồi  thấp giọng kể tiếp:

– Những tháng đầu mới giải ngũ, cha tôi rất lạc quan, ông thường bế tôi ngồi trên chiếc xe lăn, vẽ ra những viễn ảnh tươi đẹp khi ông có việc làm, có tiền lắp đôi chân giả, ông hứa sẽ chở tôi đi đây đi đó, giúp tôi tham gia vào những đội bóng của trường. Nhưng xã hội này thật tàn nhẫn và bất công, là một cựu chiến binh trở về từ chiến trường, đúng hơn là từ cõi chết, những người như cha tôi đáng lẽ phải đươc vinh danh là những người anh hùng, dám hy sinh thân thể thậm chí cả sinh mạng cho hai chữ Tự Do, nhưng không, đi đến đâu cha tôi cũng chỉ được tiếp đón khi thì bằng ánh mắt bực dọc, khó chịu, lúc thì bằng những câu nói mỉa mai tàn độc, thậm chí nhiều nơi cha tôi đến xin việc, họ đã xua đuổi một cách tàn nhẫn như hàm ý những người như cha tôi chỉ là loài sống bám hại cho xã hội.

Cha tôi bắt đầu tuyệt vọng, mất niềm tin. Ngày ngày ông chỉ ngồi lặng lẽ trện xe lăn, có khi suốt ngày ông không nói lấy một tiếng, không ăn, không ngủ, cha tôi thật sự sống mà như đã chết.

Bỗng Gilbert ngừng ngang vì nghẹn lời, tôi lặng lẽ nhìn người đàn ông trước măt và cảm nhận được nỗi đau đang giằng xé trong tim. Mím chặt môi, Gilbert cố lấy giọng bình thản kể tiếp:

– Suốt gần 2 năm trời, gia đình tôi sống như thế, hoang vắng như một nhà mồ! Cha tôi không cần biết tôi làm gì, tôi ở đâu, còn mẹ tôi càng tệ hơn, bà đi suốt ngày, không đoái hoài đến tôi, không để ý tôi sống ra sao. Mẹ tôi lấy cớ phải đi làm kiếm tiến mặc dù lương hưu trí cùng trợ cấp tàn phế của cha tôi vẫn đủ nuôi cả nhà. Năm tôi 7 tuổi, bất ngờ mẹ tôi có bầu, và khi đứa bé sinh ra, nó chẳng giống tôi hay giống cha tôi một chút nào. Có lẽ biến cố này như một nhát dao chí tử khiến cha tôi hoàn toàn ngã gục, và ông bắt đầu uống rượu.

Nói đến đây, Gilbert bật cười chua chát nhưng hình như trên khóe mắt anh ta hai giọt lệ đang từ từ chảy xuống. Thở một hơi dài, Gilbert hắng giọng nói tiếp:

– Cha tôi uống rượu như hũ chìm, và mỗi lần say là ông chửi rủa xã hội, đất nước và dĩ nhiên cả mẹ tôi. Bà thử tưởng tượng, một đứa bé mới 7, 8 tuổi mà nhiều đêm đi ngủ bụng đói meo, bên ngoài thì cha mẹ lo cãi nhau, chửi nhau. Tôi đã sống và lớn lên trong hoàn cảnh bi thương và khắc nghiệt như thế đó. Khi tôi 12 tuổi thì cha tôi mất vì ung thư gan do rượu mà ra. Sau khi cha mất, mẹ tôi lấy cớ không thể nào nuôi nổi 2 đứa con, nên bà gửi tôi sang  ở với người cô tôi. Ở gia đình này cũng chẳng khá hơn gia đình cũ của tôi là bao nhiêu, cô tôi cũng nghiện rượu, còn chú tôi thì lang thang hết người đàn bà này sang người đàn bà khác, nhưng dù sao tôi cũng còn có được những bữa ăn no bụng!

Rồi tôi cũng ra trường trung học, vài tháng sau đó tôi được tin mẹ tôi qua đời cũng vì ung thư gì gì đó tôi chẳng nhớ. Hôm tang lễ mẹ, tôi gặp lại  Jessie, đứa em cùng mẹ khác cha, tôi thoáng xúc động vì nhìn em tôi gầy gò ốm yếu xanh xao đến tội nghiệp, và tôi quyết định mang em về nuôi, vì lúc đó tôi đã hơn 18  tuổi và tôi đã đi làm cho một nhà hàng trong thành phố.
 
Bà thử tưởng tượng lúc bấy giờ tôi chỉ là một cậu trai vừa mới lớn, tuổi đời chưa quá 20, ăn chưa no, lo chưa tới, vậy mà tôi bỗng trở thành cột trụ trong gia đình. Đứa em trai của tôi năm đó đã 11 tuổi, đáng lý ra nó phải vào lớp 6, nhưng do mẹ tôi dọn nhà liên tục nên nó vẫn đang học lớp 4. Tôi thương em tôi lắm, vì nó chính là hình ảnh của tôi khi còn bé, thiếu thốn, bị ruồng bỏ quên lãng. Cho nên tội nhất quyết không để những đều như thế xảy ra cho nó.

Tôi lo lắng chăm sóc cho nó như một người cha! Tôi làm 12 tiếng tại nhà hàng, từ 12 giờ trưa tới 12 giờ đêm, buổi tối về nhà, nhìn thấy em trai tôi ngủ yên giấc tôi vui lắm. Buổi sáng tôi dậy thật sớm sửa soạn cho em tôi đi học, nhiều lần tôi còn đi với nó ra tận chỗ xe buýt, chờ nó leo lên xe xong xuôi, tôi mới yên tâm quay về nhà. Hình ảnh một thằng con trai, đôi khi đầu tóc còn bù xù, đứng lẫn trong đám người, mà đa số là các bà mẹ, chờ con lên xe buýt đi học mỗi sáng khiến nhiều người cảm động. Buổi trưa trước khi đi làm, tôi thường nấu sẵn một vài món để em trai ăn tối . Rồi suốt 12 tiếng ở nhà hàng, tôi thỉnh thoảng gọi về nhà trông chừng thằng bé. Bà biết không, suốt một năm, tôi không bạn bè, không party, trưa đi làm, tối về thẳng nhà, tôi sống chừng mực  như một ông già 50 dù lúc đó tôi vừa mới 19 tuổi, cái tuổi còn ham chơi,  tôi tự nhủ cố vài năm chờ em trai tôi vào trung học rồi sẽ tính tiếp, nhưng…

Gilbert bỗng ngừng ngang, hai tay ôm lấy mặt nhưng nhìn những ngón tay run rẩy đang cố kìm hãm sự xúc đông, tôi biết Gilbert đang khóc. Tôi vẫn im lặng ngồi yên chờ đợi, gần 5 phút sau Glibert mới  ngẩng mặt nhìn tôi cười gượng gạo, nụ cười trông như mếu, anh ta nói tiếp:

– Nhưng một buổi sáng, tôi nhận được thơ từ trường học báo 4 ngày  em tôi không đến lớp. Sau cái cảm giác bàng hoàng, hụt hẫng, tôi cảm thấy thật tức giận, mỗi sáng tôi vẫn hoặc dắt em tôi ra tận xe buýt, hoặc đứng tựa cửa chờ nó bước lên xe buýt tôi mới yên tâm, vậy mà nó không vào lớp. Khi tôi tra hỏi, em trai tôi nói sáng sáng nó vẫn đến trường nhưng không vào lớp! Nó thường lang thang trốn vào khu công viên cạnh trường, chờ sau 12 giờ, biết tôi đã đi làm, nó  mới đi bộ về nhà. Tôi hỏi tại sao nó lại làm như vậy, em trai tôi, một cậu bé chỉ mới hơn 11, 12 tuổi mà tôi vẫn nghĩ còn rất hồn nhiên  ngây thơ, hai tay thọc trong túi quần, kênh kêng trả lời tôi là nó ghét cô giáo science nên nó không vào lớp! Nhìn dáng điệu của nó, tôi không dằn được cơn tức giận, tội vung tay tát trên mặt nó hai cái tát nẩy lửa, thằng bé văng vô góc phòng, khi nó đứng lên, tôi nhìn thấy trên mặt nó có một vệt máu. Nó nhấc phone gọi 911, chuyện gì xảy ra sau đó thì chắc bà cũng biết, Cảnh sát đến, em tôi được chở đi, còn tôi bị còng tay vào tù.

Tối hôm đó tôi được hai vợ chồng chủ nhà hàng bail ra. Họ rất thương tôi vì  biết  và hiểu rõ hoàn cảnh và cuộc sống của tôi. Ngày ra tòa, đó là một trong những ngày buồn nhất trong cuộc đời của tôi, nhìn đứa em trai mà tôi rất thương yêu đứng cạnh luật sư chờ sự phán xét của tòa, tôi biết đây có lẽ là lần cuối cùng tôi được trông thấy nó.

Vị quan tòa sau khi đọc sơ về cuộc đời của tôi, ông có vẻ rất thương cảm, nhưng dĩ nhiên em trai tôi không bao giờ có thể trở về chung sống với tôi, nó được đưa tới một foster  parent nào đó. Tôi không bị phạt tù ngày nào nhưng phải đi làm việc community service 60 giờ. Sau này, nhiều lần tôi vẫn cố tìm cách liên lạc với em tôi, nhưng nó vẫn bặt vô âm tín.

Tôi thẫn thờ chăm chú nghe câu chuyện về cuộc đời của anh chàng lao công nhìn rất bình thường này. Dù lòng tôi mang mang xúc động, nhưng  tôi vẫn thắc  mắc tại sao anh chàng này lại cần kể với tôi câu chuyện này. Như đoán được ý nghĩ này của tôi, Gilbert ngồi thẳng lên, cất cao giọng:

– Suốt năm tháng dài, từ lúc bắt đầu hiểu rõ tại sao cha tôi lại bị tàn phế, tôi  thật sự oán hận và căm ghét đất nước Việt Nam của bà!

Nói đến đây, và khi nhìn thấy phản ứng ngỡ ngàng của tôi, Gilbert vội xoa tay rối rít nói:

– Xin bà hãy khoan nóng giận, cho tôi nói hết những gì tôi cần phải nói, và đây mới là phần cốt yếu, là mục đích chính của buổi nói chuyện hôm nay. Tôi cứ nghĩ chỉ vì mảnh đất nhỏ bé xa tít mù khơi đó đã đẩy cha tôi vào chỗ chết, đã phá tan gia đình bé nhỏ của tôi, và nhất là đã nghiền nát tuổi thơ và  bóp chết tương lai của tôi. Khi gặp bà vài lần trong mall, tôi chợt biết bà là người Việt Nam, nỗi oán hận lâu ngày âm ỉ trong tôi bộc phát. Chắc bà cũng nhận thấy mỗi lần bà nhờ vả, dù đó là bổn phận và là công việc của tôi, thì thái độ của tôi luôn hằn học, đôi lúc còn khiếm nhã. Tôi chuyển lòng thù hận chung đất nước Việt nam sang mối thù riêng khi vô tình tôi gặp được các con trai của bà. Họ cũng là những người sinh trưởng trên đất nước này như tôi, nhưng sao họ lại thành công vẻ vang. Ngày đó, tôi xin nhấn mạnh, chỉ những ngày đó thôi, tôi thực sự ganh ghét với những đứa con của bà.

Nói đến đây, Gilbert cười ngượng ngập thay cho lời xin lỗi, rồi vội vã kể tiếp:

– Nhưng một lần tôi phải trực qua đêm, lúc đó gần 2 giờ sáng, vô tình bước về phía shop của bà, tôi chợt sững người vì bắt gặp một hình ảnh mãi mãi tôi không thể nào quên được. Trong tiệm, bà và ba người con trai đang miệt mài quét dọn, sơn sửa.  Hai cậu lớn vừa đóng đinh treo những tấm màn, vừa cười đùa với nhau, riêng cậu bé nhỏ của bà, chắc khoảng 9, 10 tuổi gì đó, vừa ngồi sơn vừa ngủ gật. Bà có biết tôi đã xúc động đến bật khóc và chợt hiểu ra rằng những sự thành công của bà và các con, căn bản chính là sự lo lắng, thương yêu, chăm sóc và hy sinh cho nhau. Có lẽ đây là những điều chúng tôi không có trong gia đình chúng tôi chăng?

Bây giờ thì tôi thật sự muốn bật khóc, Gilbert cũng xúc động không kém, cất giọng run run, anh chàng nói tiếp:

– Rồi sau đó. tôi bắt đầu tìm hiểu về người Việt nam qua internet, tôi mới hiểu rõ hơn rằng để đến được vùng đất tự do này, người Việt đã phải đánh đổi bằng máu và nước mắt, đôi khi bằng cả sinh mệnh của mình. Người Việt Nam của bà rất cam đảm, có sức chịu đựng mạnh mẽ trong mọi hoàn cảnh, và đức hy sinh của dân tộc bà thật đáng được ngưỡng mộ.

Tôi suýt phì cười vì nghe câu nói này và thầm nghĩ  “I also have dark side you never know! “

Ngừng  lại vài phút, Gilbert đổi giọng hài hước:

– Nếu còn… ganh tỵ với những người con của bà, thì sư ganh tỵ đó không phải từ những thành công của họ, mà là điều may mắn diễm phúc vì họ có một ngưới mẹ như bà!

Bây giờ thì tôi bật cười thành tiếng. Bằng một giọng dịu dàng, tôi chia xẻ những đau thương, mất mát, mà Gilbert đã trải qua. Tôi nói với Gilbert rằng người Việt nam chúng tôi luôn trân  trong ghi ơn sự hy sinh của những người lính, như cha của anh, đã đến đất nước tôi, cùng chung vai sát cánh với chúng tôi chiến đấu cho sự tự do và nền độc lập của dân tộc Viêt nam. Tôi buồn bã nói:

– Nhưng dĩ nhiên có chiến tranh là có mất mát, đau thương. Thế hệ của cậu và của tôi, chúng ta không trực tiếp tham dự vào cuộc chiến này, nhưng những hệ lụy, những tang thương từ cuộc chiến này vẫn còn ảnh hưởng trong cuộc đời mỗi chúng ta. Người Á Đông chúng tôi luôn tin vào chữ “nghiệp”, và  “số mệnh”.

Tôi ngừng lại vài giây vì bắt gặp trên khuôn mặt anh chàng lao công này một nụ cười.

Tôi nhìn đồng hồ, buổi nói chuyện với anh chàng lao công  chẳng dây- mơ – rễ – má này mà kéo dài hơn 2 tiếng. Chúng tôi bước ra khỏi Starbucks, nhìn bóng Gilbert bước thấp bước cao về phía mall, tôi chợt ngậm ngùi chua xót và thầm nghĩ những oán trách, dù không còn nữa, của Gilbert về đất nước VN cũng có thể hiểu được phần nào.

Tôi cũng chợt nhận ra là chúng ta thường chỉ biết tới sự hy sinh của những cựu chiến binh trở về sau cuộc chiến, mà quên đi mất những người con, người em của họ. Khi cuộc chiến còn đang tiếp diễn, họ đã là những hậu phương, là chỗ dựa cho những người cha, người anh đang chiến đấu. Rồi khi cuộc chiến tàn, họ là những nạn nhân trực tiếp phải đối đầu với những khổ lụy gây ra từ hoàn cảnh khó khăn của những người cha, anh họ, nhu Gilbert, như Jessie. Mong anh em họ có cơ hội được hàn gắn, chữa lành bằng sự thông cảm và hiểu biết.

Và cầu nguyện cho những vết thương dai dẳng từ thế hệ này sang thế hệ khác mà cuộc chiến Việt Nam gây ra sớm có thể nguôi ngoai…
 
Pha Lê