Trang chủ Trang nhà Câu chuyện di cư vào miền Nam của tôi – 60 năm...

Câu chuyện di cư vào miền Nam của tôi – 60 năm nhìn lại cuộc di cư 1954

15
0

Ðoàn Thanh Liêm – Câu chuyện di cư vào miền Nam của tôi

THỨ BẢY, NGÀY 19 THÁNG 7 NĂM 2014 

Bài viết nhân kỷ niệm 60 năm Di cư vào miền Nam (1954 – 2014) – Hồi tưởng của  Đoàn Thanh Liêm  

Năm 1954, tôi vừa tốt nghiệp văn bằng Tú tài II qua kỳ thi vào tháng 6 tại Hà nội, thì được tin quân đội quốc gia đã rút khỏi miền quê tôi tại Huyện Xuân Trường Tỉnh Nam Định để ra Hải phòng bằng đường thủy. Và một số bà con ruột thịt của tôi cũng tìm cách kiếm được thuyền bè để mà đi theo đoàn quân tới được thành phố cảng này. Tôi lại có ông anh cả thuộc đơn vị quân đội trú đóng ở Quảng Yên sát với mỏ than Hòn Gai. Nên vào đầu tháng 7, tôi đã tìm cách đi từ Hà nội đến Hải phòng để tìm gặp bà con và đi thăm gia đình ông anh luôn thể. 

Trước khi rời Hà nội, tôi phải đến nhà Thầy Nguyễn Ngọc Cư là Phó Trưởng Ban Giám Khảo kỳ thi Tú Tài, để xin Thầy cấp cho một Giấy Chứng Nhận Đã Thi Đậu Tú Tài, để nộp kèm theo hồ sơ ghi danh vào Đại học. Dù đã biết rõ tôi là học trò của Thầy tại trường Chu Văn An, mà đã thi đậu trong kỳ thi vừa qua, Thầy vẫn phải cẩn thận rà lại danh sách các thí sinh trúng tuyển, rồi mới  cấp cho tôi một “Giấy Chúng Nhận Tạm Thời” để tùy nghi sử dụng. Thầy nói : Giấy Chứng Nhận Chính Thức phải do Nha Học Chánh thuộc Bộ Giáo Dục cấp phát, chứ Ban Giám Khảo chỉ có thể cấp Giấy Chứng Nhận Tạm Thời mà thôi. Biết tôi có ý định vào miền Nam, Thầy cầu chúc tôi lên đường gặp nhiều may mắn. 

Ở vào tuổi 20 lúc đó, tôi nhìn cuộc đời với nhiều lạc quan tin tưởng, nên chẳng hề e ngại trước cuộc phiêu lưu phải rời xa quê hương đất Bắc, để mà đi tới miền Nam xa xôi cả mấy ngàn cây số. Một phần đó là do tính ưa thích phiêu lưu mạo hiểm của tuổi trẻ – nhưng phần lớn là do động cơ thúc đảy bởi cái chuyện “phải tránh thoát khỏi cái nạn cộng sản độc tài nham hiểm “, mà đang sắp sửa bủa vây, bao trùm xuống khắp miền Bắc. Tôi phải ở lại thành phố Hải phòng đến hơn một tháng, thì mới tìm được phương tiện chuyên chở vào đến Sài gòn hồi giữa tháng 8. 

Đó là nhờ một ông chú là cháu của bà nội tôi, tên là chú Nhân. Chú làm việc tại cơ quan hành chánh phụ trách về việc sắp xếp tàu bè đi vào Nam, nên đã xin cấp trên ưu tiên cấp phát giấy tờ di chuyển cho tôi và một bà cô là Cô Nguyệt để leo lên được chiếc tàu khá lớn của quân đội Pháp có tên là Gascogne. Con tàu này chuyên môn chở quân trang quân dụng cho quân đội, nên không có đủ tiện nghi như là tàu chở hành khách thông thường. Nhưng mà lúc đó, lớp người di cư tỵ nạn chúng tôi đâu còn có sự lựa chọn nào khác, miễn là đi thoát khỏi miền Bắc cộng sản là được may mắn lắm rồi. Số lượng hành khách trên tàu lúc đó có đến 7 – 800 người, phần đông là từ các tỉnh xa thuộc đồng bằng sông Hồng mà sớm ra được tới Hải phòng để kịp đi vào Nam trong mấy chuyến đầu tiên được tổ chức cấp tốc sau ngày ký kết Hiệp Định Geneva 20 Tháng Bảy 1954, chia đôi đất nước. Mãi mấy tháng sau, thì mới có loạt các tàu của Mỹ với các tiện nghi thoải mái hơn để chuyên chở số lượng rất đông đảo người di cư từ Bắc vào Nam. 

Con tàu chạy trong chừng ba ngày, thì đến Cap Saint Jacques, tức là cảng Vũng Tàu bây giờ, để chuẩn bị vào cửa sông đi đến bến Nhà Rồng của thành phố Sài gòn. Sau khi tàu cập bến ít lâu, thì chúng tôi được xe chuyên chở đưa tới nơi tạm cư là trường Tiểu học Tôn Thọ Tường trên đường Trần Hưng Đạo bây giờ (mà hồi đó vẫn còn mang tên Pháp là Boulevard Galliéni) cũng gần với Chợ Bến Thành. 

Lúc đó bên phía đối diện với ngôi trường, thì có một tòa nhà lớn đang được xây cất, mà sau này chính là rạp chiếu phim Đại Nam. Bà con di cư chúng tôi được các công nhân ở đây thật là hào phóng cấp cho một số gỗ ván gỡ ra từ giàn “cốt pha”(coffrage), để dùng làm củi đun cơm, nấu nước. Đó thật là một nghĩa cử đầu tiên của người dân Sài gòn đối với lớp người mới chân ướt chân ráo từ ngòai Bắc vào miền Nam – chuyện này khiến cho tôi cứ nhớ hoài. 

Chúng tôi được mấy bà con đến được Sài gòn vài ba tuần lễ trước, nên họ tìm đến để chỉ dẫn đường đi nước bước tại cái thành phố rộng mênh mông này. Riêng tôi thì gặp lại một số bạn bè cũng từ Hà nội hay từ Nam Định mà đến đây trước như Võ Thế Hào, Trần Ngọc Vân, Nguyễn Phi Hùng . Các bạn cũng giúp tôi việc này chuyện nọ trong bước đầu còn nhiều bỡ ngỡ. 

I – Những kỷ niệm khó quên của Sinh viên Di cư.  

Sau vài bữa, thì tôi làm xong thủ tục ghi danh ở Đại học Saigon và được nhận vào ở trong Trường Gia Long là nơi được dành riêng cho các sinh viên di cư. Tại đây, sinh viên chúng tôi được cư ngụ trong khu ký túc xá, nên có đày đủ tiện nghi về nơi ăn chốn ở, nhà vệ sinh, phòng tắm giặt thật là đàng hoàng tươm tất. Ban tiếp cư còn lo cho chúng tôi mỗi ngày ba bữa ăn đày đủ. Và mỗi tháng chúng tôi còn được cấp phát cho một số tiền nho nhỏ để chi tiêu lặt vặt.  

Cũng tại nơi tạm cư này, có lần chúng tôi lại được tiếp đón cả Thủ Tướng Ngô Đình Diệm cùng phái đoàn chánh phủ đến thăm nom và úy lạo sinh viên nữa. Nói chung, thì sự chăm sóc của nhà nước đối với lớp người di cư đầu tiên trong mấy tháng cuối năm 1954 rõ ràng là đã được tổ chức hết sức chu đáo, gọn gàng. Đặc biệt là mấy trăm sinh viên từ Hanoi như tôi đã được hưởng một chế độ ưu đãi quá tốt đẹp, vượt xa ngoài sự mong ước của nhiều người trong hàng ngũ chúng tôi. 

Nhưng rồi đến lúc các học sinh tựu trường, thì sinh viên chúng tôi phải di rời ra cư ngụ tại khu lều vải được dựng lên trên nền đất của Khám lớn Saigon cũ sát bên Tòa Án, để trả lại trường ốc cho nữ sinh Gia Long. Vào cuối năm, trời Saigon nắng nhiều và vào ban trưa nhiều anh em chúng tôi phải tìm cách chạy đến các công sở lân cận, nơi có nhiều bóng cây che rợp cho bớt nóng. Và chúng tôi đã ăn cả hai cái Tết Tây và Tết Ta đầu năm 1955, tại khu lều vải tạm trú này. 

II – Vài chuyện ngộ nghĩnh tại Khu Lều Khám Lớn.  

Xin vắn tắt ghi lại vài chuyện vui vui ngộ nghĩnh trong dịp vui xuân năm Ất Mùi 1955 tại Khu Lều Khám Lớn như sau đây. 

1 – Một nhà báo người Pháp của tờ “Le Parisien libéré” đến chụp hình và phỏng vấn sinh viên chúng tôi. Anh chụp ảnh lia lịa về cái cảnh anh Lưu Trung Khảo viết mấy câu đối Tết bằng chữ Hán. Từ đó mà sinh viên chúng tôi tặng cho anh Khảo cái biệt danh “Ông Đồ Khảo”.  

Hồi đó sinh viên chúng tôi đều nói rành tiếng Pháp, nên đã trả lời các câu hỏi của anh nhà báo này một cách suôn sẻ thỏai mái. Tôi còn nhớ đã nói với anh ấy rằng  : “Chúng tôi vừa là nạn nhân, vừa là chứng nhân của sự tàn bạo của người cộng sản độc tài. Do đó mà phải bỏ lại quê hương ở miền Bắc để đi tìm được tự do tại miền Nam này. Cụ thể là riêng trong gia đình tôi, thì đã có hai người bị cộng sản sát hại. Đó là vào năm 1947 công an cộng sản đã giết ông cậu là em của mẹ tôi tên là Tống Văn Dung và đem quăng xác ông xuống con sông Trì Chính ở Phát Diệm .Và họ còn đến tận nhà bắt cả cha tôi là Đoàn Đức Hải từ năm 1948 mang đi biệt tích luôn…” 

2 –  Cũng vào dịp Tết Ất Mùi này, Đoàn Sinh viên Di cư chúng tôi còn thực hiện được một tờ Đặc san lấy tên là “Lửa Việt’ với chủ đề là “Xuân Chuyển Hướng” với các cây bút sau này rất nổi danh, đó là Vũ Khắc Khoan, Nguyễn Sĩ Tế, Dõan Quốc Sĩ, Trần Thanh Hiệp, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền v.v…  

3 – Và riêng tại căn lều gồm 8 người của tôi, thì để mừng xuân anh bạn Bùi Đình Nam đã ra tay làm đầu bếp chiên cho chúng tôi một món bí tết thật đặc sắc. Chúng tôi lại còn được uống cả một chai rượu chát hiệu Beaujolais của Pháp nữa. Miếng ngon này làm cho bọn trẻ chúng tôi lúc đó mới ở vào cái tuổi đôi mươi, thì không bao giờ mà chúng tôi lại quên được. 

Thật là những kỷ niệm khó quên của cái thời bọn thanh niên trai trẻ chúng tôi nơi miền đất mới lạ Sài gòn này. Cuối cùng, thì vào khoảng sau Tết Âm lịch không lâu, chúng tôi được dọn đến khu Đại học xá Minh Mạng vừa mới xây cất xong. Sinh viên di cư chúng tôi là những người đầu tiên đến cư ngụ tại khu cư xá này với đày đủ tiện nghi phòng ốc, giường tủ, điện nước …Và cứ như vậy cuộc sống của chúng tôi lần hồi đi vào mức ổn định và hòa nhập được với nền nếp của cả thành phố thủ đô của miền Nam tự do, phồn thịnh và thanh bình. 

III –  Chuyện về các anh chị em trong gia đình của tôi. 

Còn về phần riêng gia đình các anh chị em ruột thịt của tôi, thì kẻ trước người sau chúng tôi đều quy tụ lại được với nhau trên mảnh đất miền Nam an lành, và nâng đỡ bảo bọc nhau xây dựng lại cuộc sống mới. Lúc đó các anh chị lớn đều ra sức hợp với nhau mà chăm lo chu đáo cho mấy em còn nhỏ dại cỡ tuổi 10 – 16, vì cha mẹ chúng tôi đều không còn sống tại thế nữa.  

Và rồi đến lượt các cháu thuộc thế hệ thứ hai trong đại gia đình chúng tôi , thì các cháu đều đã thành đạt tại miền Nam này. Vì thế, khi các cháu khôn lớn, thì đều bày tỏ lòng biết ơn đối với cha mẹ vì đã hy sinh hết mình, để mà đem được các cháu vào miền Nam – và nhờ đó mà các cháu có được những cơ hội tốt đẹp để học tập và gặt hái được nhiều thành công trên đời. Điều này càng rõ rệt, vì sau năm 1975 chúng tôi được gặp lại bà con từ quê hương ngoài Bắc vào thăm, thì họ đều xác nhận là họ bị cán bộ cộng sản đàn áp, bóc lột, chèn ép kỳ thị tàn bạo đến độ túng đói khốn khổ điêu đứng vô cùng! 

Năm 2014 này, nhân dịp kỷ niệm 60 năm Ngày Đặt Chân đến miền Nam Tự Do (1954 – 2014), tôi xin ghi lại một số kỷ niệm riêng tư của mình như là một chứng từ của một thanh niên là một thành viên của khối gần một triệu người di cư tỵ nạn cộng sản, mà đã phải bỏ lại tất cả tài sản nhà cửa, ruộng vườn, mồ mả cha ông trên đất Bắc để đi xây dựng cuộc sống mới tại miền đất tự do, no ấm và an hòa ở phía Nam của tổ quốc Việt nam. 

Và nhân dịp này, với tư cách là một người thụ ơn, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn đối với nhân dân các quốc gia đã góp phần yểm trợ cho công cuộc di chuyển và định cư vĩ đại của cả triệu đồng bào chúng tôi trong những ngày tháng đen tối đó. Và tôi cũng không quên công lao của các nhân viên Chánh phủ, của Quân đội miền Nam Việt nam, và của biết bao nhiêu cơ quan thiện nguyện khác mà đã lo lắng chăm sóc thật là chu đáo tận tình cho lớp người di cư chúng tôi vào thuở đó. Dù chỉ là một cá nhân nhỏ bé, lời nói của tôi lại hết sức trung thực, như là một biểu hiện của sự cảm thông sâu sắc và quý mến chân thành đối với tất cả các vị ân nhân đáng kính của cả một thế hệ người di cư từ miền Bắc Việt nam năm 1954 vậy. 

Nhân tiện, tôi cũng thấy cần phải ghi lại nơi đây tấm lòng quảng đại nhân ái của nhân dân miền Nam – đã mở rộng vòng tay đón nhận và bao bọc che chở cho bà con ruột thịt là nạn nhân khốn khổ bất hạnh của nạn độc tài cộng sản, nên đã phải bỏ lại nơi chôn nhau cắt rốn ở ngòai Bắc để tìm tự do tại miền Nam. Ân nghĩa đó thật là cao cả rộng lớn như Trời Biển và đã góp phần củng cố thêm cho Sức mạnh của tòan thể dân tộc chúng ta nữa. 

Thành phố Costa Mesa California, tháng Bảy năm 2014Đoàn Thanh Liêm 

Trùng Dương – 60 năm nhìn lại cuộc di cư 1954 – Vĩnh Biệt Hải Phòng

THỨ BẢY, NGÀY 19 THÁNG 7 NĂM 2014VFC – NHÂN VĂN GIAI PHẨM 

https://www.youtube.com/watch?v=c4zat5-E-J4

Trái, bản đồ về hành trình của mỗi chuyến tầu do Hải Quân Hoa Kỳ đảm trách chở người di cư từ Hải Phòng vào Sàigòn trong cuộc di cư năm 1954-55. (Hình National Geographic, số tháng 6-1955) Phải, các người di cư đang được giúp lên chiếc máy bay của Không Quân Pháp để di cư vào Nam. Cô bé ở góc phải có lẽ cỡ tuổi tôi khi tôi cùng một số người trong gia đình di cư vào Nam cũng bằng một chuyến bay tương tự. (Ảnh National Geographic, số tháng 6-1955) 

Kính dâng hương hồn Cậu Mợ, 

với lòng tri ân sâu xa nhất của con. 

Khi cuộc Di Cư 1954 diễn ra, tôi vừa lên 10 tuổi, đang sống với gia đình ở Hải phòng, cái thành phố hải cảng đã trở thành chặng cuối cùng đối với hàng triệu người Việt miền Bắc muốn di cư vào Nam thay vì ở lại sống dưới sự cai trị hà khắc dã man của Việt Minh, tên gọi của những người cộng sản hồi ấy. 

Cũng cái thành phố hải cảng này đã là nơi Bác sĩ Trung úy Hải quân Mỹ, Thomas A. Dooley, và vài quân nhân Mỹ đã làm việc trong suốt 11 tháng, từ giữa tháng 8 năm 1954 tới giữa tháng 5 năm 1955, để giúp dân tị nạn ổn định sức khỏe trước khi gửi họ lên tầu Mỹ di cư vào Nam, mà kết quả là cuốn hồi ký “Deliver us from evil” (“Hãy cứu chúng tôi khỏi mọi sự dữ”, trích từ một câu trong Kinh Lạy Cha của tín đồ Thiên Chúa giáo) xuất bản vào năm 1956.(*) Cuốn sách, mô tả, với sự quan tâm chân thực, xót xa của một vị lương y mới ra trường, những giao tiếp của ông với dân di cư từ các vùng quê đổ về, phần lớn là những giáo dân thuộc đạo Thiên Chúa, đói rách và bệnh hoạn, và nghe kể về những cảnh huống tàn bạo ngoài sức tưởng tượng mà những người dân quê phải gánh chịu do những người cộng sản cuồng tín gây ra. 

Cha mẹ tôi không có ý định di cư vào Nam. Cha mẹ tôi nguyên là con nhà nông thuộc giới điền chủ. Ông bà cùng sinh ra vào khoảng năm 1910, và lớn lên ở làng Trình Xá, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông. Cha tôi là con trai duy nhất trong một gia đình gồm năm chị em. Ông học lực chỉ xong được bằng tiểu học, và với tí vốn liếng học thức đó, ông được bầu làm lý trưởng, hay xã trưởng, thời vua chúa xưa là hương mục, có trách nhiệm trông coi tài sản công và tư của làng. 

Hồi còn nhỏ tôi nghe mẹ tôi kể chuyện là, vì ông có máu mê cờ bạc, nên có cái triện để đóng dấu trên những giấy tờ sang nhượng ruộng đất bà nội tôi nắm giữ luôn, còn cẩn thận cuốn trong ruột tượng quấn quanh bụng suốt ngày đêm cho chắc ăn, để ông không tự do bán ruộng đất của gia đình. Do đấy, mỗi lần có ai tới xin ông lý trưởng đóng nhận một sang nhượng bất động sản nào đó, ông lại phải nói với mẹ cho mượn cái triện. Có lẽ cái say mê nhất của ông là xe hơi và máy móc mà những lần ra tỉnh chơi ông đã thấy, và có để ý theo giõi việc làm ăn của một ông chú của tôi, chủ một hãng xe đò ở Hà Nội. 

Tôi không nhớ ông bà quyết định dọn ra tỉnh (vì chỉ có ở tỉnh ông mới được thoả mãn lòng say mê máy móc xe hơi) vào năm nào, song căn cứ vào năm và nơi sinh, là tỉnh Sơn Tây, của các anh chị kế tôi, thì có lẽ vào khoảng năm 1940 hay trước đó đôi năm. Tóm lại trong đám anh chị em 11 đứa tụi tôi thì ba người đầu sinh ở quê, năm người, trong đó có tôi là thứ bẩy, ra đời ở Sơn Tây, và ba đứa em cuối cùng sinh ở Hải Phòng. 

Thoạt đầu cha tôi làm công cho người ta. Dần dà ông tậu được một cái xe chở hành khách, dậy anh Cả và vài người cháu trai đồng lứa học lái, sửa xe và đi theo làm lơ xe. Có lần, cũng theo lời kể của mẹ tôi, chiếc xe đò của ông bị quân đội Pháp trưng dụng đi sang tận bên Miên, Lào mà mẹ tôi không được tin tức gì tới hai tuần, cuối cùng ông về kể chuyện bà mới hay. Ông làm ăn vất vả nuôi một bầy con lúc nhúc. Cũng nhờ sự chịu khó cần cù của ông mà hồi xẩy ra nạn đói năm 1945 giết chết cả triệu người miền Bắc, gia đình tôi lớn bé không có ai bị thiếu ăn cả. 

Trí nhớ của tôi bắt đầu ghi nhận được là lúc gia đình tôi đã dọn xuống Hải Phòng, có lẽ vào cuối thập niên 1940. Nhỏ nên không biết gì về tình hình chiến sự sôi động hồi ấy, nhưng tôi nhớ có một đôi lần anh lơ xe hớt hải chạy về giữa ban ngày, nói không ra hơi, báo với cha tôi, vỏn vẹn, “Ông ơi, xe bị mìn rồi!” Cha tôi lặng người chết đứng, mẹ tôi ngưng mọi việc đang làm thất thần nhìn cha tôi, trong khi lũ nhỏ chúng tôi biết đã tới lúc đi chỗ khác chơi. 

Cha tôi, như nhiều người Việt khác, là người có khả năng sinh tồn mạnh mẽ, sẵn sàng vượt qua mọi trở ngại và bất hạnh của đời sống để lo cho vợ con. Vào các năm trước cái gọi là Chiến thắng Điện Biên Phủ, rồi tiếp theo là việc ký kết Hiệp định Genève vào mùa hè năm 1954 giữa Pháp, chính phủ Bắc Việt của Hồ Chí Minh, Lào, Trung Cộng, Liên Xô và Anh (Hoa Kỳ từ chối không ký, còn chính phủ Nam Việt Nam không chấp nhận Hiệp định) được ký kết, cha tôi đã làm chủ một hãng xe chở hành khách gồm cả xe đò và xe nhỏ, hình như hiệu Citroen, không rõ tại sao gọi nôm na là xe lô-ca-xông, tôi đoán từ chữ “location”, ngược xuôi các tuyến đường Hà Nội – Hảỉ Dương – Hải Phòng và Hải Phòng – Đồ Sơn, tôi nhớ đại khái thế. Hãng xe của cha tôi tên là Đông Bình, nên nguời ta hay gọi cha mẹ tôi là Ông Bà Đông Bình, chúng tôi là con Ông Bà Đông Bình. 

Tôi không bao giờ có dịp hỏi tại sao ông chọn tên đó, nhưng nghĩ có lẽ đó là do khao khát được nhìn thấy hoà bình trên giải đất dọc theo bờ biển Thái Bình Dương lâu nay chiến tranh triền miên này. Hai người anh họ ruột của tôi cũng mỗi người được cha tôi nâng đỡ tậu được một hay hai xe chở hành khách, tự đặt tên là Bắc Bình và Nam Bình. Tôi không rõ vì sao cha tôi không nghĩ tới việc mua bất động sản, mà suốt thời gian sống ở Hải Phòng ông thuê nhà chứ không mua. 

Tôi còn nhớ ngôi nhà chúng tôi ở trước khi di cư vào Nam là ở số 3 Ngõ Nghĩa Lợi, một đầu ngõ gặp đường Cát Dài, và đầu bên kia đụng một đường rầy xe lửa nằm bên cạnh một hồ sen mà hình ảnh vẫn còn in trong trí nhớ tôi, mà loài sen là hoa tôi rất thích. Không mua nhà đất có lẽ vì cha tôi thấy không cần thiết vì ông chắc chắn sẽ thừa hưởng nhiều ruộng đất để lại của bà Nội tôi khi bà qua đời.

Trai, cac thủy thủ tren chiếc tầu Hoa Kỳ USS Bayfield cầm biểu ngữ chao mừng đoan người di cư. Giữa, hang ngan người được tầu đổ bộ của Phap đon vớt từ cac nơi dọc theo bờ biển Băc Việt Nam đang chờ len tầu Mỹ USS Montague để di cư vao Nam. Phải, xuống bến Saigon để bắt đầu một cuộc đời mới va tự do. (Ảnh U.S. Navy) Theo Ronald B. Frankum, Jr., tac giả “Operation Passage to Freedom – The United States Navy in Vietnam, 1954-1955” (Texas Tech University Press, Lubbock, Texas, 2007), cuộc di cư vĩ đại nay co sự tham dự của 115 chiến hạm va cac loại tầu lớn, nhỏ khac của Mỹ, va đa chuyen chở tren 310,000 người trong số 800,786 tổng số người di cư cho tới thang 5 năm 1955, kể cả dan lẫn quan sự, từ Bắc vao Nam. Số con lại do cac cơ quan của chinh phủ Việt, Phap va Anh đảm trach, bằng phương tiện vừa tầu thủy vừa may bay. Ngoai ra, co khoảng tren 40,000 người tự tuc bằng cac phương tiện rieng. Số người bị Việt Minh ngăn cản bằng mọi cach, kể cả đe dọa va hanh hung, khong cho tới được Hải Phong để đap tầu v ào Nam ước tinh len tới nhiều chục ngan người. 

Vào những ngay trước khi kết thúc cuộc chiến mà sách vở gọi là Cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1946-1954) và nhiều người trong chúng ta cho là không cần thiết vì sau Đệ nhị Thế chiến đa số các nước thuộc địa đều lần lượt trước sau lấy lại được độc lập mà không cần đổ máu, tin dữ từ nhà quê ra: Bà Nội tôi bị chết vì trúng một mảnh mọt chê vào đầu trong khi đang trốn dưới một cái phản gỗ vào một đêm nọ. Bà tôi chết khi được 84 tuổi, tuy già nua nhưng cụ còn khá minh mẫn. 

Mỗi lần nhớ đến Bà Nội thì tôi không thể không nhớ tới một lần về quê ăn Tết, tôi ở miết bên nhà ông cậu ruột vì ở đó có các người em họ cỡ tuổi tôi hay lớn hơn. Đến giờ đi ngủ, bà tôi lụm cụm tay xách cây đèn dầu tay chống gậy sang đón về nhưng tôi không chịu về. Tôi sợ những nét già nua nhăn nheo của bà môt phần, nhưng sợ nhất là cái quan tài bằng gỗ sơn đỏ bà sắm sẵn để trong cái gian đầu nhà chuyên để chứa thóc gạo và các đồ lỉnh kỉnh khác. 

Hiệp định Genève được ký kết vào ngày 21 tháng 7 năm 1954, chia cắt Việt Nam làm hai, miền Bắc do Việt Minh cai trị, miền Nam sau đó trở thành một quốc gia mới. Người dân hai miền có 300 ngày để chọn nơi mình muốn sinh sống. Quê tôi là một trong những vùng được Việt Minh tiếp thu sớm nhất vào cuối năm 1954. Cha tôi quyết định gửi vợ chồng anh Cả và đứa con gái đầu lòng mới được mấy tháng về nhà quê sống. Cùng đi với anh chị Cả là anh Sáu, tôi và thằng em Chín. 

Như nhiều chủ gia đình Việt xưa, cha tôi ít khi giải thích lý do ông có một quyết định nào đó, hoặc có thì ông cũng chỉ bàn với anh Cả, vì khi viết bài này tôi hỏi Chị Năm, người chị kế tôi, chị cũng nói không rõ tại sao cha tôi quyết định gửi một số con về quê ngay sau khi đình chiến. 

Tôi suy đoán là thứ nhất, anh Cả hồi ấy bị động viên, đã mặc đồ lính (tôi còn nhớ, mặc dù hồi ấy chỉ mới 9, 10 tuổi, đã trố mắt trước vẻ đẹp trai khác thường của ông anh trong bộ quân phục mầu rêu khít khao với thân hình và cái nón chào mào cùng mầu), có lẽ là đào ngũ về quê sống, có thể là do ý muốn của cha mẹ tôi vì lo cho cậu con cả. 

Ngoài ra, có thể cha tôi, cũng như đa số người Việt ở thành thị hồi ấy chưa biết gì về hậu quả của các cuộc cải cách ruộng đất đã và đang diễn ra ở các làng quê nhưng chưa về tới làng tôi, nên ông gửi một số con về quê để tiện thể trông nom ruộng đất chăng. 

Chúng tôi về quê sống được vài tháng vào cuối hè và đầu thu, thì một bữa chị Năm, hồi ấy mới 14 tuổi song tính nhanh nhẹn nên được cha tôi tin cậy giao phó việc đi đi về về đem tiền bạc và thông tin, được cha tôi gửi về bảo thu xếp về Hải Phòng để đi Nam. 

Để tránh nghi ngờ là có ý định đi Nam và có thể bị bao vây giữ lại, khi ra tới Hànội, lúc ấy cũng đã được tiếp thu, chúng tôi phải giả bộ như sẽ sinh sống ở đó, bằng cách thuê một căn phòng nguyên là lớp học ở trong một nữ tu viện và trường học mà hầu hết nhân sự đã di cư, nằm trên đường Hai Bà Trưng, để ở ít tuần. 

Anh Sáu và thằng Chín thì đã theo chị Năm về Hải Phòng trước, còn tôi ở lại với gia đình anh chị Cả để giúp trông con cho chị. Để cho màn trình diễn có vẻ thực hơn, tôi còn được ghi danh đi học lớp ba ở một trường công tại đây. Tất nhiên vì là con nít nên tôi không được cho biết các mưu tính đó của các người lớn. 

Khi chúng tôi chuẩn bị đi Hải Phòng thì tôi được người lớn dặn dò là nếu có ai hỏi đi Hải Phòng làm gì thì nói là đi thăm người nhà sắp đi Nam để khuyên họ ở lại, đừng đi Nam nữa vì nước nhà đã độc lập tự do. Ngoài ra, riêng tôi còn được giao thêm một việc nữa, đó là khi các cán bộ Việt Minh khám đến chị Cả đang bế cháu bé thì tôi phải tìm cách… cấu vào đùi con bé thật mạnh để nó phải khóc ré lên và chị Cả sẽ đưa nó cho tôi bảo bế ra ngoài. 

Thế nhưng chính việc đó lại làm cho người nữ cán bộ khám chị Cả càng sinh nghi, túm tôi lại và lột lấy hai chiếc giầy trên chân con cháu, lôi ra và tịch thu cọc giấy bạc tiền Đông Dương còn mới tinh. Tuy thế, chúng tôi sau đó cũng được phép lên xe đi Hải Phòng, chỉ có mớ tiền bị giữ lại. Của đi thay người, chị tôi ưá nước mắt suýt xoa tiếc của song tự an ủi. 

Lúc ấy chúng tôi hoàn toàn không biết tới những cảnh tìm đường vượt thoát vô cùng thương tâm của bao nhiêu ngàn con người muốn tìm đường tới Hải Phòng, một thành phố đang hấp hối song vẫn còn là nơi còn cho họ cái hy vọng tới được Đường tới Tự Do – Passage to Freedom. 

Nếu trong cuộc Di cư 1975 và sau đó, câu hỏi của hầu hết người Việt ở Miền Nam, trong một cái xã hội vô vọng mà “đến cả cái cột đèn nếu biết đi thì cũng tìm cách đi”, là làm sao để đi; thì ởthời điểm 1954 tình thế phức tạp hơn nhiều, và câu hỏi lớn nhất của họ là nên đi hay ở. Trước hết, một trong những điều khoản của Hiệp định Genève là hai năm nữa, vào năm 1956, sẽ có một cuộc tổng tuyển cử để thống nhất đất nước và người dân hai miền Nam Bắc tự định đọat lấy thể chế chính trị thích hợp. 

Đây chính là điều đã, theo tôi, khiến nhiều người dân miền Bắc quyết định ở lại để chờ cái ngày không bao giờ đến đó, một phần cũng vì quá mệt mỏi với chiến tranh và muốn thấy hoà bình bằng mọi giá, và cũng vì tiếc của, bên cạnh ảnh hưởng bởi một chiến dịch tuyên truyền ráo riết của Việt Minh. 

Tuyên truyền và cả dọa nạt, nhất là đối với dân quê, rằng tầu “há mồm” của Mỹ sẽ đưa họ ra biển rồi mở cái cổng mồm đó và trút họ xuống biển, hoặc thủy thủ Mỹ sẽ nướng con nít ăn thịt nếu đến với họ, vv. Và thứ hai là dạo ấy chỉ có một số ít nghe biết, chứng nhân thì lại càng ít hơn, được những cuộc tàn sát giết hại và đầy đọa những người không cùng chính kiến của người cộng sản Việt Nam. 

Cha tôi, tôi nghĩ, thuộc loại người đã quá mệt mỏi với chiến tranh, muốn tin vào cái viễn ảnh tổng tuyển cử năm 1956, và nhất là tiếc của, của do ông đã tốn bao mồ hôi nước mắt tạo dựng nên và đất đai mà ông tưởng là sẽ được thừa hưởng của bà tôi. Tuy vậy, ông cũng còn bán tín bán nghi, chưa quyết sẽ có di cư hay không. Và có lẽ để cho dễ dàng quyết định vào phút chót, cha tôi bảo anh Cả đem gia đình anh và một số các em vào Nam, trong đó có chị Ba, chị Năm, anh Sáu và tôi. 

Nghe biết sẽ phải đi Nam với chúng tôi, chị Ba khóc lóc thú nhận đang yêu anh Tuấn và muốn được cha tôi chấp thuận cho lấy anh, mà gia đình anh Tuấn thì đã nhất định ở lại. Chị Ba là người đẹp nhất trong đám sáu chị em gái chúng tôi, và khá tân tiến: chị là người đầu tiên trong gia đình tôi đi uốn tóc, và chị còn học chơi đàn guitar nữa. 

Tôi hay ngồi xem chị gẩy đàn và hát bài “Dư âm”, có lẽ là bài chị chọn để học đánh đàn, nên tôi rất nhớ bài đó vì nghe tới nghe lui. Cha tôi tất nhiên là rất tức giận vì bị đẩy vào một trường hợp khó xử: trước khi chấp thuận cho chị Ba lấy anh Tuấn, ông lại còn phải xin từ hôn với anh Nhân, là người đã làm đám hỏi với chị Ba, chỉ chờ ngày cưới. 

Việc chị Ba từ hôn vậy mà cũng thành một tin trên một tờ báo địa phương, tôi còn nhớ đã đọc được. Dù vậy, chị Ba cuối cùng cũng được toại nguyện: lấy chồng trong một đám cưới chạy tang rất đơn sơ, vì bên gia đình chồng đang có tang. Nghe nói chị bị mẹ chồng đối xử không tốt. Nhiều năm tháng sau đó, tôi được đọc mấy cái bưu thiếp chị gửi vào xin một chiếc xe đạp. Tôi không nhớ lời yêu cầu của chị có được đáp ứng. Chị đã qua đời vì bệnh tiểu đường cách đây gần hai thập niên. 

Khác với đa số người di cư 1954 đáp tầu Mỹ, chúng tôi được di tản bằng máy bay do Pháp cung cấp. Đó là vào một ngày tháng 3 năm 1955, và đấy là lần đầu tiên tôi được đi máy bay, nên bụng dạ làm reo, ói lên ói xuống, ngồi trên xe GMC chở từ phi trường Tân Sơn Nhất đến nhà ông chú ở đường Phan Đình Phùng để tá túc tạm, tôi vẫn còn ói. 

Chúng tôi vừa mới ổn định chỗ ở  một căn nhà gỗ, không có cầu tiêu riêng, thuê được ở bên Khánh Hội chưa được bao lâu thì có thư của cha tôi nói ông đã quyết định ở lại, bảo mấy anh em ở trong Nam tự lo liệu lấy. Tôi khóc xưng cả mắt, nghĩ từ đây sẽ không còn gặp lại cha mẹ và các em, nhất là Tám, cô em thua tôi hai tuổi song hai đứa rất gần nhau từ hồi nhỏ.  

Chị Năm mới 15 tuổi, phải khai gian lên hai tuổi để xin đi làm sau khi học lấy được cái bằng đánh máy, rồi sau đó vừa đi làm vừa đi học thêm tiếng Anh. Anh Cả thì mướn xe taxi chở khách, trong khi chị Cả đi buôn quần áo từ trong Chợ Lớn rồi thuê sạp ở chợ Khánh Hội bán lại. Anh Sáu và tôi còn nhỏ, 12 và 10 tuổi, nên được đi học.   Tôi làm quen với đời sống của vùng đất mới có tên là Sàigòn, thấy cái gì cũng lạ.  

Một vài chi tiết mà tôi thấy ngộ nghĩnh, nói lên đặc tính dễ dãi và sởi lởi của người Miền Nam: Đi mua đồ giá năm cắc, tức 50 xu, đưa tờ giấy một đồng, người bán hàng thản nhiên xé tờ giấy bạc làm đôi cái rẹt, đưa trả lại mình một nửa. Tôi thích lối làm bánh mì của miền Nam, đầy tính sáng tạo: ngoài thịt nguội hay ba tê còn có đồ chua, ngò và dưa leo, mà ở bên Mỹ bây giờ chúng ta gọi là Vietnamese sandwich. Nhưng cái tôi thích nhất của Miền Nam là vô số truyện bằng tranh, một loại sách không thấy ở miền Bắc, và những nhà cho thuê truyện, thay thế cho những thư viện công cộng không hiện hữu ở Sàigòn nói riêng và Việt Nam nói chung. Miền Nam, do đấy, mở ra không biết bao nhiêu là cơ hội, so với Miền Bắc, đặc biệt Miền Bắc của sau ngày bức màn tre buông xuống. 

Thế rồi đùng một cái, lại có thư của cha tôi nói quyết định đi Nam. Lúc bấy giờ đã gần tới ngày Việt Minh tiếp thu Hải Phòng. Nhà của cha mẹ tôi cũng là nơi các người thân trong họ từ làng quê, mượn lý do “đi Hải Phòng khuyên người thân ở lại vì nước nhà đã độc lập tự do” để xin giấy thông hành di chuyển, tới ở tạm trong khi chờ ngày lên tầu đi Nam. 

Cha mẹ tôi chắc đã nghe không thiếu các thảm cảnh cải cách ruộng đất và địa chủ bị đấu tố và xử tử ở các vùng quê, bên cạnh các chuyện cấm đạo, giáo dân bị buộc đi học tập chính trị vào đúng lúc có Thánh Lễ, các giáo sĩ bị tra tấn, hành hung. Một trong những chuyện kinh hoàng nhất là việc một ông linh mục bị Việt Minh đóng bẩy cây đinh xung quanh đầu giả làm mạo gai, được vài giáo dân chở tới trại tạm chú ở Hải Phòng dưới sự điều động của Bác sĩ Dooley để nhờ ông cứu chữa.(**) Thấy không thể ở lại được nữa, cha mẹ tôi bán tống bán tháo tài sản để đi Nam, bằng lòng nhận vàng thay vì tiền mặt, hồi ấy là tiền Đông Dương có in hình ông Bảo Đại. 

Những gì không bán được hay muốn giữ lại thì giao cho chị Tý, đã ở với gia đình tôi được vài năm để nuôi em gái út của tôi, đi theo tầu Mỹ chở vào Nam, cùng với anh Tư và Út, cận ngày Hải Phòng đóng cửa. Tóm lại, gia đình tôi tổng cộng gần hai chục người thì chia nhau đi Nam thành bốn đợt, kể cả đợt chị Hai theo chồng lúc ấy có quốc tịch Pháp di cư vào Đà Nẵng trước đó. 

Khi cha mẹ tôi đem vàng đi bán, định để mua một căn nhà để gia đình an cư và lo chuyện xây dựng lại cuộc đời thì khám phá ra là toàn vàng giả. Tôi có thể hình dung ra nỗi đau đớn của ông bà khi ở tuổi ngoài 40, chợt thấy hai bàn tay trắng, với một lũ con mà phần lớn còn nhỏ, tại một vùng đất lạ hoắc. 

Dù vậy, tôi không hề nghe ông bà than phiền hay nuối tiếc đã bỏ mọi thứ để đem anh chị em tôi đi Nam. Tôi sẽ mãi mãi ghi ơn ông bà đã chọn lựa Miền Nam làm nơi cho anh chị em tôi lớn lên, trong một không khí tự do dù là tương đối. 

Chỉ tiếc là 20 năm sau, chúng tôi lại phải đối đầu với thêm một lần bỏ cửa bỏ nhà ra đi tới những nơi còn xa hơn từ Bắc vào Nam, tuốt tận bên kia đại dương nghìn trùng. Và không đứa nào trong vài anh chị em chúng tôi đi thoát được khỏi Việt Nam vào những ngày cuối cùng của tháng 4 năm 1975 đã đem theo được cha mẹ già. 

Cha tôi không muốn đi, nói đã lớn tuổi, không muốn nhờ vả vào ai; còn mẹ tôi thì rất muốn đi khỏi Việt Nam nhưng thấy cha tôi không muốn đi nên cũng lặng lẽ nhìn chúng tôi lần lượt biến mất khỏi cuộc đời bà. Mẹ tôi mất khoảng một năm sau ngày Sàigòn thất thủ. Cha tôi nể lời con cái bằng lòng đi Mỹ đoàn tụ vào đầu năm 1983, nhưng chỉ sống được tám tháng thì qua đời, vì bệnh một phần, song có lẽ vì cảm thấy quá cô quạnh. [TD, 2014/07] 

Chú thích:

(*) Thomas A. Dooley, M.D., Deliver Us From Evil – The Story of Viet Nam’s Flight to Freedom, New York: Farrar, Straus and Cudahy, 1956, có thể tải xuống toàn bộ cuốn sách tại

https://archive.org/details/deliverusfromevi006715mbp 

Cuốn sách đã được chính phủ Mỹ hồi ấy dùng vào chiến dịch tuyên truyền chống Cộng của thập niên 1950 và 1960. Cũng do đấy mà có nhiều người Mỹ, kể cả giới học giả, thuộc phong trào chống cuộc chiến tại Việt Nam vào thập niêm 1960, đã kết luận, hoặc để biện minh cho khuynh hướng chính trị hay hành động chống đối nào đó của mình, rằng ông Dooley đã thiện lệch vì làm việc cho cơ quan tình báo Mỹ CIA dạo ấy. Có lời phê bình còn độc địa hơn cho rằng những chuyện trong sách hoàn toàn bịa đặt cho chủ đích tuyên truyền của chính quyền Mỹ. 

(**) Deliver Us From Evil, trang 198; và “Viet Nam: The Lesson of Seven Nails,” Time, 21 tháng 2, 1955, 

http://content.time.com/time/magazine/article/0,9171,892973,00.htmlBắc Kỳ 9 nút là gì ?

Những người Bắc di cư  được gọi là “Bắc Kỳ 9 nút”, số 9 là do 2 con số 4 và 5 cộng lại, nên số 9 được dùng để nói tắt, thay cho số “54″. 

NH_Route_9.svg

Andy Nếu phải nói rõ thêm, Bắc Kỳ 9 nút là gì, thì xin thưa, đó là những người Bắc chưa bị nhiễm độc Cộng sản, với tổng số khoảng gần một triệu người, di cư vào Nam trong thời gian 300 ngày theo quy định của Hiệp định Giơ-ne-vơ  1954. 

Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 là bản Hiệp định theo đó Việt Nam bị Hồ Chí Minh đồng lõa với cộng sản Tàu, với thực dân Pháp, chia cắt Việt Nam làm 2 miền, tại vĩ tuyến 17. 

Miền Bắc được Tàu cộng trao cho Hồ chí Minh Cộng Sản Việt Nam, thay thế quân thực dân Pháp cai trị miền Bắc Việt Nam. 

Tại miền Bắc, trong phạm vi từ Ải Nam Quan đến Vĩ tuyến 17, dựa vào súng đạn Tàu cộng, dựa vào sự chống lưng của Tàu cộng, của “đoàn cố vấn Trung quốc vĩ đại” tại Hà Nội năm 1954,  Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam khủng bố người dân miền Bắc, đàn áp trí thức, bắt giam trí thức, bỏ đói trí thức mở miệng  (trái với lời tuyên truyền bịp bợm, nói một đằng, làm một nẻo của Hồ Chí Minh, rằng thì là mà, “dân chủ là để cho dân đuọc mở miệng”), dựng nên chế độ độc tài cộng sản VNDCCH vô sản chuyên chính. 

Tại miền Nam vĩ tuyến 17, “Quốc gia Việt Nam”, vốn có lãnh thổ thống nhất từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, đã bị bọn Cộng sản Hồ Chí Minh nô lệ Tàu cộng dựa vào Tàu cộng, cướp mất phần đất phía Bắc từ Ải Nam Quan đến vĩ tuyến 17,  nên “Quốc gia Việt Nam’ trên thực tế chỉ còn thẩm quyền tài phán trên phạm vi lãnh thổ từ vĩ tuyến 17 trở xuống Cà Mau. 

Tại miền Nam, “Quốc gia Việt Nam” sau đó thay đổi chế độ chính trị, từ quân chủ không tuyệt đối, có Thủ tướng cầm quyền, sang chế độ “Tổng Thống” đổi tên nước thành “Việt Nam Cộng Hòa”. 

Việt Nam Cộng Hòa tiếp tục con đường “kinh tế thị trường”, con đường của tự nhiên, con đường của con người tự phát triển dần nên, con đường của thịnh vương trù phú mà miền Bắc khi còn trong phạm vi nước Việt Nam không Cộng sản cũng đã từng đi, trước khi bị áp đặt dưới ách cai trị Cộng sản Việt Nam và Hồ Chí Minh chuyên chính vô sản từ 1954 theo con đường kinh tế Nga cộng & Tàu cộng    Xã hội Chủ nghĩa nghèo đói ô nhục. 

Về chính trị, Việt Nam Cộng Hòa cũng tiếp tục con đường mà cả nước đã đi theo từ trước 1954 . Là con đường của lý tưởng của cuộc kháng chiến chống Pháp, là lý tưởng của thế hệ vàng Hà Nội trước 1954. Là khuynh hướng dân chủ tự do Tây phương như tại Anh & Pháp & Mỹ, là liên minh với Mỹ. 

Hiệp định Giơ ne vơ 1954 có quy định một khoảng thời gian là 300 ngày để mọi người dân ở 2  bên vĩ tuyến 17 có thể tự do đi lại từ Bắc vào Nam, từ Nam ra Bắc. Để tùy người dân chọn lựa nơi sinh sống của mình, hoặc ở với Cộng Sản ở miền Bắc vĩ tuyến 17 –  lấy sông Bến Hải làm ranh giới, hoặc ở với nguời Việt tự do ở miền Nam vĩ tuyến 17. 

Vô cùng sợ hãi ách cai trị Cộng Sản, hàng triệu người dân miền Bắc đã phải bỏ cả nhà cửa ruộng đất ở lại miền Bắc, tay trắng di cư vào Nam tự do. 

Có rất nhiều người miền Bắc muốn di cư vào Nam, nhưng những người dân ở những vùng xa xôi, đã bị Cộng Sản đe dọa, ngăn chặn, thậm chí cả bắn giết, như hàng ngàn người dân Quỳnh Lưu đã bị bộ đội Cộng Sản càn quét, thảm sát, không cho họ di cư vào Nam. 

Nếu không có những đe dọa, bắn giết của Cộng Sản, ngăn cản di cư vào Nam, hẳn là con số người di cư vào Nam sẽ còn lớn hơn nhiều lần con số gần 1 triệu, là con số được kết toán sau khi chấm dứt 300 ngày tự do di cư. 

Những người Bắc di cư như trên được gọi là “Bắc Kỳ 9 nút”, số 9 là do 2 con số 4 và 5 cộng lại, nên số 9 đuọc dùng để nói tắt, thay cho số “54″. 

Trong khi “Bắc Kỳ 75″ là nhóm từ để gọi những người Bắc sau này, di cư vào Nam sau cuộc xâm lăng của cộng sản chiếm đóng VNVCH. 

Tuy 2 con số “54″ và “75″ là 2 con số khác biệt nhau rõ ràng để chỉ 2 nhóm, 2 đợt người Bắc di cư vào Nam, nhưng sự khác biệt giữa 2 nhóm trên không thuần túy vì thời điểm di cư, mà sự khác biệt chính giữa 2 nhóm người là ở chỗ: 

Nhóm người trước, “Bắc Kỳ 9 nút” là những người Bắc không bị nhiễm độc Cộng Sản. 

Nhóm người sau, “Bắc Kỳ 75″ là những người miền Bắc mà đa số đã bị nhiễm độc Cộng Sản, đã bị bọn Cộng Sản Hồ Chí Minh và những tên tương cận, bọn trí thức cộng sản chân chính tim đỏ thẻ đỏ chuyên nghề làm chứng gian bưng bít thông tin, nhồi sọ thông tin, kích động hận thù “giai cấp”, kích động sự hận thù người miền Nam “tay sai đế quốc Mỹ và liếm bơ thừa sữa cặn của đế quốc Mỹ”… 

Nhóm người Bắc trước, “Bắc Kỳ 9 nút”, trong đó có một số là một đa số của thế hệ vàng Hà Nội, những trí thức, văn nghệ sĩ miền Bắc, phần còn lại đa số là những nông dân miền Bắc cần cù nhẫn nại, nói chung là không bị nhiễm độc Cộng Sản, khi vào Nam, hòa mình với người dân miền Nam.  Thế hệ vàng Hà Nội, trí thức, văn nghệ sĩ miền Bắc không Cộng Sản đã góp phần đáng kể vào công cuộc xây dựng Việt Nam Cộng Hòa về mọi mặt Văn hóa, Giáo dục, Kinh tế, Chính trị, đưa Việt Nam đang từ một quốc gia vừa mới ra khỏi chiến tranh, chẳng bao lâu sau đã trở nên một quốc gia hàng đầu trong khu vực về mọi mặt kinh tế chính trị. Ở thời điểm của nó, trước 1975, VNCH là một quốc gia dân chủ tự do, là một quốc gia dân chủ tự do hơn hẳn nhiều quốc gia trong khu vực. 

Nhóm người Bắc sau này, “Bắc Kỳ 75″ cũng là những người thông minh cần cù chăm chỉ. Người Việt Nam, Bắc hay Nam, thì cũng là người Việt Nam.  Cũng một nền dân trí, một trình thông minh, chăm chỉ cần cù như nhau, khác biệt là cái chế độ chính trị Cộng Sản nó ngăn cản sức làm việc & năng suất của người dân. Nên, sau khi vào Nam, (ngoại trừ một thành phần đã làm giàu, xây dựng nên những tài sản kếch sù là do cậy quyền đảng viên Cộng Sản có chức có quyền, ăn cắp & ăn cướp tài sản & quốc khố của miền Nam, trong đó có 16 tấn vàng  (*) của miền Nam đã bị bọn Bộ chính trị Cộng sản Hà Nội Bắc Kỳ của Lê Duẩn chiếm đoạt chia nhau làm tài sản riêng), phần lớn cũng đã ăn nên làm ra, khá giả. 

Tuy nhiên, khác với những người Bắc Kỳ 9 nút đã rất yêu quý miền Nam, yêu quý VNCH như người miền Nam, thì lại có một số không nhỏ những người Bắc Kỳ 75, còn nhiễm nhiều độc chất Cộng Sản, nhất là bọn trí thức Cộng Sản chân chính tim đỏ thẻ đỏ chuyên nghề làm chứng gian, thay vì cám ơn sông nước và con người miền Nam đã tạo cơ hội cho họ trở nên giàu có, tốt đẹp, lại cám ơn “Bác và Đảng” đã cướp đoạt miền Nam cho họ. Bọn “trí thức” này không ngừng dựa vào súng đạn và sự chống lưng của bọn công an Cộng Sản, mà bịp bợm ca ngợi nhà Cộng Sản tội đồ Hồ Chí Minh & Cộng Sản Việt Nam, tai họa của nhân dân đất nước Việt Nam, tai họa của nhân dân đất nước miền Nam, mà bịp bợm với người dân miền Nam là họ đã có công “giải phóng miền Nam”! 

Trong khi bản thân những người Bắc Kỳ 75 có thể đã khấm khá hơn nhiều so với thời kỳ còn phải sống dưới chế độ Cộng sản Hồ Chí Minh, Lê Duẩn ở miền Bắc. Ở  đó con người phải sống theo bản năng súc vật.  Thì, nhìn vào thành quả đóng góp cho Quốc gia, cho miền Nam, phải thấy là nhóm Bắc Kỳ 75 thua xa nhóm Bắc kỳ 9 nút. 

Trong khi nhóm Bắc Kỳ 9 nút góp phần nâng cao VNCH, khiến VNCH hơn hẳn lân bang Thái lan, Mãlai. ( Singapore thì chỉ mong sao cho đuọc như Sài Gòn của VNCH ). Thì từ khi có Bắc Kỳ 75 tràn vào, Việt Nam Cộng Hòa  bị dính vào với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ( là nước XHCN Việt Nam ) đã trở nên càng ngày càng tụt hậu.  Thua kém lân bang Thái Lan, Mã lai, Singapore từ hàng chục năm đến hàng thế kỷ. 

Về mặt chính trị, từ một Quốc gia dân chủ tự do, bị rơi xuống thể chế độc tài, bị áp đặt dưới chế độ độc tài Cộng sản Hồ Chí Minh tội ác, đần độn. Khiến cho miền Nam, cùng với miền Bắc, bị cả thế giới khinh khi. Vì đến hôm nay Việt Nam vẫn còn là môt Quốc gia dưới chế độ độc tài, hơn thế nữa, còn là một chế độ độc tài Cộng sản, đàn em và nô lệ cho Cộng sản Tàu, đang bên bờ   nội thuộc  Tàu cộng.

 Nguồn: noileo 

(*): Chuyện 16 tấn vàng, trước đây ĐCS VN phao tin là ông Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã mang theo khi đi tị nạn. Nay báo chính thống ĐCS xác nhận là nó vẫn còn nguyên trong Ngân khố khi họ tiếp quản Sài Gòn.